Quintel Blogger theme

A free Premium Blogger theme.

Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2013

BAN ĐỎ TRUYỀN NHIỄM

Ban đ truyn nhim
Cần cân nhắc khi xem xét những trường hợp lạ thường của bệnh ban đỏ truyền nhiễm, có thể thấy hiện tượng phổ biến nhất là căn bệnh này hay bị nhầm với các chứng bệnh khác. Bệnh còn có tên gọi là bệnh thứ năm vì luôn được xếp cuối cùng (và ít nhất) trong danh sách 5 bệnh nổi ban dễ lây lan thường gặp ở trẻ. Tên y học của bệnh, erythema infectiuosum (ban đỏ truyền nhiễm), thường hay bị người ta quên mất.
Bệnh thường bắt đầu không giống như một bệnh. Bệnh không có triệu chứng nào ngoài nổi ban, không có các biến chứng và không cần phải điều trị. Bệnh có thể được nhận biết qua hiện tượng "má đỏ" rất đặc trưng ở trẻ. Các nốt ban thường xuất hiện đầu tiên trên hai má trẻ và sau đó ở đằng sau tay, chân. Các nốt ban thường rất mịn, nổi thành vệt và màu hồng. Chúng có xu hướng nổi lên rồi biến mất và có thể xuất hiện trong một khoảng thời gian rồi lại biến mất. Các nốt ban có thể xuất hiện trở lại sau vài ngày hoặc vài tuần, đặc biệt là khi trẻ tiếp xúc với hơi nóng (ví dụ như sau khi tắm nước nóng) hoặc ngứa. Tuy nhiên, nói chung các nốt ban trên mặt sẽ mất dần trong vòng 4 ngày sau khi xuất hiện, và các nốt ban ở các bộ phận khác trên cơ thể sẽ mất đi trong vòng từ 3 đến 7 ngày.
Điều đáng chú ý duy nhất ở bệnh ban đỏ truyền nhiễm là nó có thể khiến bạn lo lắng, hoặc khiến bạn phải đến khám bác sĩ, dù việc đó không cần thiết.
Bệnh rất dễ lây lan. Có thời kỳ, bệnh ban đỏ truyền nhiễm ở Mỹ đã dẫn đến tình trạng phải đóng cửa trường học không cần thiết. Nguyên nhân gây bệnh là do parvovirut B19, thời gian ủ bệnh được cho là từ 4 đến 14 ngày.

                                                                              
XỬ LÝ TẠI NHÀ
Không cần phải điều trị. Chỉ cần theo dõi và đợi để chắc chắn rằng trẻ bị bệnh ban đỏ truyền nhiễm. Kiểm tra để biết rằng trẻ không bị sốt. Sốt không phải là hiện tượng thường gặp khi trẻ bị bệnh ban đỏ truyền nhiễm. Không cần phải bắt trẻ hạn chế hoạt động.

Trông đỢi gì Ở phòng khám
Bác sĩ có thể sẽ phân biệt được bệnh ban đỏ truyền nhiễm với các bệnh phát ban khác. Nếu các nốt ban đúng như những gì được miêu tả trong phần này, bác sĩ sẽ đưa ra chẩn đoán giống như của bạn. Bác sĩ có thể sẽ đo nhiệt độ cho con bạn và khám các nốt ban. Do hiện tại không có phương pháp kiểm tra nào, nên bác sĩ sẽ không tiến hành xét nghiệm. Theo dõi và chờ đợi là cách điều trị bệnh ban đỏ truyền nhiễm.


Nhà thuốc Sơn Trường
Luôn mang lại niền tin cho khách hàng

TINH HỒNG NHIỆT

Tinh hỒng nhiỆt
Tên gọi tinh hồng nhiệt đã có từ hơn 300 năm trước do những nốt đỏ đặc trưng của bệnh. Nguyên nhân của bệnh là do nhiễm liên cầu khuẩn thường là từ họng. Viêm họng do liên cầu sẽ được nhắc đến trong phần Viêm họng.
Bạn có thể nhận biết được bệnh qua những dấu hiệu đặc trưng sau:
          1. Các nốt ban dỏ xuất hiện trong vòng từ 12 đến 48 giờ sau khi bị bệnh. Các nốt bắt đầu xuất hiện trên mặt, thân mình và cánh tay và nhìn chung sẽ nhanh chóng xuất hiện trên cả cơ thể trong vòng 24 giờ. Các nốt màu đỏ, rất nhẵn và phủ kín gần như toàn bộ bề mặt da. Vùng da xung quanh miệng nhợt nhạt. Các nốt ban đỏ sờ như giấy nhám nhẵn. Những nếp gấp da, ví dụ như khuỷu tay hoặc nách thường đỏ sậm hơn những chỗ khác. Các nốt ban khi ấn vào sẽ có màu trắng trong khoảng vài giây.
2. Sốt và sức khỏe yếu thường đi kèm với hiện tượng đau đầu, đau dạ dày và nôn. Bệnh nhân thường bị đau họng, nhưng không phải lúc nào cũng có.
          3. Các nốt ban có màu đỏ sậm trong khoảng 5 ngày, dù tình trạng bong da có thể kéo dài trong vài tuần. Nếu da bị bong quá một tháng, đặc biệt ở lòng bàn tay, thì là điều không bình thường.
Khi khám cho trẻ sẽ thấy họng trẻ bị đỏ, có các đốm nổi trên vòm miệng, lưỡi trắng, sần sùi sau đó sưng lên và có màu đỏ. Ở cổ có thể nổi hạch.
Giống như các chứng viêm nhiễm do liên cầu khác, dấu hiệu của bệnh tinh hồng nhiệt có liên quan đến bệnh sốt thấp khớp (xem Viêm họng).

XỬ LÝ TẠI NHÀ
Bạn không thể tự điều trị tinh hồng nhiệt tại nhà, phải đưa trẻ đi khám. Vì tinh hồng nhiệt là do liên cầu gây ra, nên cần đi khám bác sĩ để được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Viêm do liên cầu gây ra thường rất dễ lây, vì thế các thành viên khác trong gia đình cũng nên được kiểm tra.
Bạn có thể điều trị một vài triệu chứng của bệnh tại nhà. Cùng với việc dùng thuốc kháng sinh, bạn nên dùng thuốc hạ sốt có sẵn trên thị trường để hạ sốt cho trẻ, đáp ứng đủ nhu cầu về nước cho trẻ và cho trẻ uống một ít nước lạnh để làm dịu cổ họng. (Lưu ý: Không dùng thuốc aspirin cho trẻ nhỏ hoặc trẻ trong độ tuổi thiếu niên, nếu khả năng viêm nhiễm do virus vẫn còn).

Trông đỢi gì Ở phòng khám


Nhà thuốc Sơn Trường
Luôn mang lại niền tin cho khách hàng

BAN ĐÀO

Ban đào
Ban đào thường hay gặp nhất ở những trẻ dưới 3 tuổi, nhưng cũng có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào. Những dấu hiệu chính của bệnh là trẻ đột nhiên sốt cao, có thể gây co giật. Tình trạng co giật này là do nhiệt độ cơ thể cao, chứ không phải là dấu hiệu của bệnh động kinh. Hạ sốt ngay lập tức là việc làm cần thiết.
Làm thế nào để nhận biết bệnh ban dào
Sốt. Thông thường trẻ sẽ sốt cao liên tục trong vài ngày. Đôi khi sốt có thể dẫn đến tình trạng co giật hoặc tai biến. Tuy nhiên, trẻ vẫn bình thường.
Các nốt ban. Các nốt ban sẽ xuất hiện khi trẻ đã hạ sốt hoặc ít lâu sau khi trẻ khỏi sốt. Chúng gồm các đám nốt màu hồng và tách biệt rõ ràng, sẽ chuyển màu trắng khi ấn vào và xuất hiện đầu tiên trên thân người. Đám nốt này có thể hơi sần sùi. Các nốt ban lan dần xuống các vùng như cánh tay, chân và cổ, nhưng hiếm khi nổi rõ ở trên mặt hoặc cẳng chân. Các nốt ban thường ở trên da không quá 24 giờ.
Các triệu chứng khác
Đôi khi trẻ bị chảy nước mũi nhẹ, họng đỏ, hoặc nổi hạch ở phía sau đầu, đằng sau tai hoặc ở cổ. Trong đa số các trường hợp thường gặp thì không có các dấu hiệu khác nữa.
Bệnh có thể do virus gây ra và là bệnh truyền nhiễm, cần tránh không cho trẻ tiếp xúc với người khác cho đến khi đã hết sốt. Thời gian ủ bệnh là từ 7 đến 17 ngày.
Viêm não là một biến chứng rất hiếm gặp của bệnh ban đào. về cơ bản, ban đào là dạng bệnh nhẹ.
XỬ LÝ TẠI NHÀ
Việc điều trị tại nhà dựa trên hai nguyên tắc. Thứ nhất, điều trị hiệu quả tình trạng sốt. Tránh cho trẻ nhỏ và trẻ ở độ tuổi thiếu niên dùng aspirin vì có thể gây ra hội chứng Reye rất hiếm gặp. Nguyên tắc thứ hai là theo dõi cẩn thận và chờ đợi. Bệnh nhân mắc chứng ban đào bề ngoài trông có vẻ khỏe mạnh và không có các triệu chứng đặc biệt nào một khi cơn sốt đã được kiểm soát. Nếu có những triệu chứng như viêm tai (trẻ kêu bị đau tai hoặc kéo tai) hoặc ho, bạn nên xem phần về những bệnh nói trên trong cuốn sách này. Tình trạng hôn mê có thể là dấu hiệu cảnh báo của chứng viêm não hoặc viêm màng não
Cần nhớ rằng bệnh ban đào không kéo dài quá 4 hoặc 5 ngày. Bạn nên gọi cho bác sĩ nếu như các triệu chứng không biến mất. Nếu như tình trạng này vẫn không hết, bạn nên gọi điện cho bác sĩ.

Trông đỢi gì Ở phòng khám

Các bậc phụ huynh thường phát hiện ngay ra bệnh do hiện tượng trẻ sốt cao. Như đã nói ở trên, vào giai đoạn này, có rất ít dấu hiệu khác của bệnh. Nên đến bác sĩ để khám tai, mũi, họng và ngực cho trẻ. Nếu sốt vẫn chỉ là hiện tượng duy nhất, bác sĩ sẽ khuyên bạn nên điều trị cho trẻ tại nhà (giảm sốt cho trẻ cùng với việc theo dõi cẩn thận và chờ xem các nốt ban đào có mất đi không). Không có cách điều trị y học nào hiệu quả hơn những cách điều trị tại nhà.


Nhà thuốc Sơn Trường
Luôn mang lại niền tin cho khách hàng

SỞI ĐỨC (RUBELLA)

SỞI Đc (Rubella)
Sởi Đức còn có tên gọi khác là bệnh rubella hay sởi 3 ngày. Sởi Đức khác với những bệnh khác như sởi ban đỏ, sởi 7 ngày hay sởi 10 ngày.
Làm thế nào để nhận biết bệnh sởi Đức
Trước khi xuất hiện các nốt ban. Trẻ có thể bị Ốm nhẹ vài ngày. Những hạch bạch huyết ở phía sau cổ có thể to dần ra và đau.
Các nốt ban. Các nốt ban lúc đầu xuất hiện trên mặt là những nốt đỏ phng hoặc hơi sưng. Chúng nhanh chóng lan ra thân mình và tứ chi, và các đốm riêng rẽ có xu hướng nhập lại thành những đám nốt đỏ lớn. Các nốt ban sởi Đức thường rất khác nhau và khó nhận biết ngay cả đôi với những vị phụ huynh và bác sĩ có kinh nghiệm nhất. Thường thì không xuất hiện các nốt ban.
Sốt. Bệnh nhân hiếm khi sốt quá 38°c và thường không quá 2 ngày.
Đau. Ở trẻ lớn và người lớn khi bị sỏi Đức, thường có khoảng 10-15% bị đau khớp. Hiện tượng đau thường xuất hiện vào ngày thứ 3 sau khi bệnh bắt đầu.
Bệnh lây lan như thế nào
Sởi Đức là bệnh nhiễm trùng nhẹ do virus, không phải bệnh truyền nhiễm giống như bệnh sởi hay bệnh thủy đậu. Bệnh thường lây qua nước bọt hoặc chất tiết ra từ cổ họng. Bệnh có thể lây trong khoảng từ 7 ngày trước khi xuất hiện các nốt ban cho đến 5 ngày sau đó.
Thời kỳ ủ bệnh là từ 12 đến 21 ngày, trung bình là khoảng 16 ngày.
Các câu hỏi cụ thể trong bảng lựa chọn là nhằm nhận biết các biến chứng có thể xảy ra, vốn rất hiếm gặp. Lo lắng chính liên quan đến sởi Đức là ảnh hưởng của bệnh đối với thai nhi. Nếu trong tháng đầu mang thai, bà mẹ bị nhiễm sởi Đức, 50% khả năng thai nhi sẽ gặp những biến chứng như đục thủy tinh thể, bệnh tim, điếc hoặc thiểu năng trí tuệ. Đến tháng thứ ba của thai kỳ, rủi ro này giảm xuống còn khoảng 10%, và mức độ rủi ro sẽ tiếp tục giảm đi trong suốt thai kỳ. Để phòng ngừa các chứng bệnh bẩm sinh nói trên, người ta đã tìm ra văcxin phòng bệnh sởi Đức.

XỬ LÝ TẠI NHÀ
Thường thì không cần phải điều trị. Thỉnh thoảng, có thể cho bệnh nhân uống thuốc hạ sốt. Thường không bắt buộc phải cách ly bệnh nhân. Trẻ em và thiếu niên chỉ nên được điều trị bằng acetaminophen.

Những phụ nữ có thai nên tránh bất cứ sự tiếp xúc nào với bệnh nhân bị sởi Đức. Trong trường hợp nghi ngờ có tiếp xúc với người bệnh, thai phụ nên nói với bác sĩ điều trị. Xét nghiệm máu sẽ cho biết thai phụ đã từng bị sởi Đức và miễn dịch hay chưa, hoặc thai phụ có thể gặp phải những vấn đề gì. Ở nhiều nước, những xét nghiệm này là bắt buộc trước khi kết hôn, vì thế nên ngày nay có rất ít phụ nữ có thai gặp phải những nguy cơ này.
Trông đi gì phòng khám
Trong trường hợp sởi Đức thông thường, bệnh nhân hiếm khi phải đi gặp bác sĩ. Những câu hỏi về khả năng bị lây bệnh của phụ nữ đang mang thai thường dễ nói và tiết kiệm hơn khi tư vấn với bác sĩ qua điện thoại. Văcxin ngừa sởi Đức, một trong những mũi tiêm chủng MMR cho trẻ, thường được tiêm khi trẻ khoảng 15 tháng tuổi và 5 tuổi


Nhà thuốc Sơn Trường
Luôn mang lại niền tin cho khách hàng


SỞI

SI
Sởi còn có các tên gọi khác là lên sởi ban đỏ, sởi 7 ngày và sởi 10 ngày, khác với bệnh rubella, vốn hay được gọi là bệnh sởi Đức hoặc sởi 3 ngày. Sởi là bệnh có thể phòng ngừa được, nhưng không như một số loại bệnh trẻ em khác, bệnh có thể tương đối nặng. Điều đáng buồn là nhiều thập kỷ sau khi người ta tìm ra văcxin phòng sởi, hàng năm vẫn có hàng nghìn người bị mắc bệnh này, và một số trong số đó đã chết.  Để phòng bệnh sởi, cách duy nhất là tiêm phòng cho tất cả mọi người.
Làm thế nào để nhận biết bệnh sởi
Dấu hiệu ban dầu. Sởi là bệnh do virus, thường bắt đầu với các triệu chứng sốt, mệt mỏi, ho khan, mắt đỏ, ngứa và nhạy cảm với ánh sáng. Những dấu hiệu này thường xảy ra trong khoảng từ 3 đến 5 ngày trước khi xuất hiện các nốt ban.
Một dấu hiệu sớm khác của bệnh sởi là sự xuất hiện của những nốt trắng nhẵn trên bề mặt da đỏ ở vùng trong miệng, đối diện răng hàm (gọi là các đốm Koplik). Những nốt này dần nhạt màu đi khi các nốt phát ban xuất hiện trên da.
Các nốt ban. Các nốt ban xuất hiện vào khoảng ngày thứ 5, lúc dầu là những nốt ban nổi trên bề mặt da, nhẵn và màu hồng. Ban đầu các nốt ban xuất hiện ở xung quanh đường chân tóc, trên mặt, cổ và vùng phía sau tai. Các nốt này, khi ấn vào sẽ nhạt màu di, sau đó dần trở nên sẫm màu hơn và có xu hướng sẽ nhập lại thành những nốt đỏ lớn khi bệnh phát triển.
Các nốt ban lan từ đầu xuống ngực, rồi xuống bụng và cuối cùng là lan ra tứ chi. Hiện tượng nổi ban sẽ kéo dài trong khoảng từ 4 đến 7 ngày và có thể kèm với hiện tượng ngứa nhẹ. Khi bệnh phát triển, trên da có thể có những chỗ tổn thương màu nâu sáng.
Sởi lây lan như thế nào
Sởi là bệnh do virus và rất dễ lây. Bệnh lây lan qua nước bọt hoặc qua chất tiết ra từ cổ họng người bệnh, qua việc tiếp xúc trực tiếp với những đồ vật có dính nước mũi hoặc đờm. Bệnh có thể lây lan trong vòng từ 3 đến 6 ngày trước khi các nốt ban xuất hiện cho đến vài ngày sau đó. Các dấu hiệu bắt đầu ở người bị lây bệnh trong khoảng thời gian từ 8 đến 12 ngày sau khi tiếp xúc với virus.
Bệnh sởi có một số biến chứng, trong đó thường hay gặp là viêm họng, viêm tai và viêm phổi. Nhiều trong số những biến chứng này là do vi khuẩn và cần được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Bệnh viêm phổi có thể đe dọa đến tính mạng bệnh nhân. Một vấn đề rất nghiêm trọng có thể để lại di chứng vĩnh viễn cho bệnh nhân là biến chứng viêm não do sởi; các biện pháp điều trị nhằm kiểm soát bệnh có thể cần khi biến chứng rất hiếm gặp này xảy ra.

XỬ lý tẠi nhà
Điều trị các triệu chứng bệnh là tất cả những gì cần làm trong trường hợp sởi thông thường (không có biến chứng). Có thể dùng các loại thuốc giảm đau và thuốc hạ sốt được bán ở các hiệu thuốc để giảm sốt và làm giảm bớt sự khó chịu cho trẻ. Khi bệnh nhân bị ho, có thể dùng bình xịt. Tránh không dùng thuốc aspirin cho trẻ nhỏ và trẻ ở độ tuổi thiếu niên vì có thể, dù rất hiếm, sẽ dẫn đến hội chứng Reye. Nên cho bệnh nhân ở trong phòng có ánh sáng mờ, bệnh nhân sẽ thấy dễ chịu hơn do mắt bệnh nhân rất nhạy cảm với ánh sáng. Nói chung, bệnh nhân cảm thấy "lên sởi". Bệnh nhân cần được cách ly cho đến khi giai đoạn dễ lây bệnh kết thúc. Tất cả những người chưa tiêm phòng đã từng tiếp xúc với bệnh nhân phải được tiêm phòng ngay lập tức (Những người đã từng lên sởi cũng nên tiêm phòng).

Trông đỢi gì Ở phòng khám
Bác sĩ sẽ xem bệnh sử và khám cho bệnh nhân để chẩn đoán và xác định bất cứ biến chứng nào nếu có. Những biến chứng liên quan đến vi khuẩn, ví dụ như viêm tai và viêm phổi, thường có thể được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Những bệnh nhân có những triệu chứng bị nghi là viêm não (hôn mê, cứng cổ hoặc co giật) sẽ được nhập viện, và sẽ được xét nghiệm dịch não tủy. Bệnh nhân, nếu có vấn đề về đông máu, có thể bị chảy máu, nhưng trường hợp này rất hiếm gặp. Thông thường, lúc đầu đó chỉ là những nốt màu tím sẫm trên da. Tuy nhiên, cách tốt nhất để phòng bệnh là tiêm phòng sởi.



Nhà thuốc Sơn Trường
Luôn mang lại niền tin cho khách hàng

THỦY ĐẬU

ThỦy đẬu
Do thủy đậu thường lây rất nhanh và việc uống thuốc aspirin khi bị thủy đậu có thể gây ra hội chứng Reye, nên việc biết được các dấu hiệu của bệnh là rất có ích.
Các dấu hiệu của bệnh thủy đậu
Trước khi xuất hiện các nốt ban: Thông thường, bệnh nhân bị mệt mỏi và có thể bị sốt trong vòng 24 giờ trước khi xuất hiện các nốt ban.
Các nốt ban: Các nốt thủy đậu phát triển qua những giai đoạn sau:
1.    Ban đầu chúng xuất hiện dưới dạng những đốm da phẳng, màu đỏ.
2.    Những phần da màu đỏ bắt đầu nổi gồ lên và có thể trông giống mụn bọc.
3.    Chúng phát triển thành những vết giập nhỏ dễ vỡ, gọi là mụn nước. Những mụn nước này có thể trông giống như những giọt nước trên nền màu đỏ. Bề mặt của mụn nước rất dễ bị cào xước.
4.    Khi các mụn nước vỡ ra, vết dâu bắt đầu chảy mủ và hình thành nên các vảy khô. Đó là huyết thanh khô và không phải mủ thật. Bệnh nhân thường sẽ rất ngứa. Hiện tượng này xảy ra trong vài giờ đầu tiên sau khi các nốt xuất hiện.
5. Vảy của vết thương sẽ bong ra trong khoảng từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 13.
Các mụn nước có xu hướng xuất hiện theo từng đợt (nhiều vết đau cùng xuất hiện một lúc) với khoảng 2 đến 4 đợt xuất hiện trong vòng từ 2 đến 6 ngày. Các nốt ban thường xuất hiện dầu tiên ở trên da đầu và sau đó lan ra những bộ phận khác của cơ thể, nhưng chúng cũng có thể xuất hiện ở bất cứ bộ phận nào. Các nốt ban thường xuất hiện nhiều nhất ở vai, ngực và lưng. Chúng hiếm khi xuất hiện ở lòng bàn tay hay gân bàn chân. Bệnh nhân có thể chỉ mọc vài nốt, nhưng cũng có thể là hàng trăm nốt.
Sốt: Sau khi hầu hết các vết đau đã lên vảy, hiện tượng sốt thường sẽ giảm đi.
Bệnh thủy đậu lây lan như thế nào?
Bệnh thủy dậu rất dễ lây lan -có đến 90% anh chị em trong cùng một gia đình sẽ bị lây. Bệnh có thể lây trong khoảng thời gian từ 24 giờ trước khi xuất hiện các nốt ban cho đến khoảng 6 ngày sau đó. Thủy đậu lây qua nước bọt hoặc qua chất tiết ra từ cổ họng, hoặc qua việc tiếp xúc trực tiếp với quần áo, vải vóc. Bệnh không lây qua các vết thương khô. Thời gian ủ bệnh là từ 14 đến 17 ngày. Bệnh nhân thường chỉ bị thủy đậu một lần trong đời, sau đó miễn dịch, có rất ít ngoại lệ.
Phần lớn thời gian bệnh thủy đậu nên được điều trị tại nhà. Rất hiếm khi thủy đậu gây ra các biến chứng. Hai biến chứng nguy hiểm nhất có thể buộc phải điều trị là viêm não và khi vết thương bị nhiễm trùng. Biến chứng viêm não thường hiếm gặp.

XỬ lý tẠi nhà
Vấn đề chính khi điều trị thủy đậu là làm thế nào kiểm soát được hiện tượng ngứa dữ dội và hạ sốt. Các loại thuốc giảm đau và thuốc hạ sốt trên thị trường có thể có tác dụng. Tắm nước nóng có soda (nửa chén soda hòa vào một chậu nước đầy) thường có tác dụng. Thuốc kháng histamin cũng có thể hiệu quả.
Lưu ý: Do gần đây có những thông tin về mối liên hệ giữa thuốc aspirin, bệnh thủy đậu và biến chứng rất hiếm gặp nhưng nguy hiểm liên quan đến thận và não, đó là hội chứng Reye, do đó không bao giờ được cho trẻ nhỏ hoặc trẻ ở độ tuổi thiếu niên uống aspirin nếu nghi ngờ trẻ bị thủy đậu hoặc bị cúm.
Cắt móng tay gọn gàng hoặc đeo găng tay sẽ giúp không làm xước da khi gãi. Nếu tổn thương ở miệng, súc miệng bằng nước muối có thể sẽ giúp bệnh nhân thấy dễ chịu hơn: Thêm một nửa thìa (3 ml) muối vào 150 ml nước. Phải rửa tay ít nhất 3 lần một ngày, và toàn bộ các phần da phải được rửa nhẹ nhàng, cẩn thận. Gãi vào vết thương nhiễm trùng có thể để lại sẹo.
Nếu hiện tượng ngứa vẫn không thuyên giảm hoặc vấn đề tiếp tục kéo dài quá 3 tuần, hãy gọi điện cho bác sĩ. Cách hỏi bác sĩ qua điện thoại hoặc thư điện tử sẽ tránh không để bệnh lây sang người khác. Gọi cho bác sĩ nêu trẻ bị thủy đậu đã tiếp xúc với ai đó chưa được miễn dịch, hoặc đang uống thuốc steroid, hoặc trẻ đã tiếp xúc với phụ nữ đang mang thai.

Trông đỢi gì Ở phòng khám
Đừng ngạc nhiên nếu thấy bác sĩ rất vui vẻ, thậm chí sốt sắng tư vấn điều trị bệnh qua điện thoại. Nếu cần thiết phải đến bệnh viện, cần cố gắng cách ly bệnh nhân với những người khác. Ở trẻ khỏe mạnh, bệnh thủy đậu ít khi để lại di chứng, nhưng đối với những người đang bị những bệnh nặng khác, thủy đậu có thể gây nguy hiểm hoặc thậm chí dẫn đến chết người. Việc đi khám bác sĩ có thể là không cần thiết trừ khi có khả năng xảy ra biến chứng.



THỦY ĐẬU


BỆNH ZONA
Bệnh zona do một loại virus gây mụn giập tương tự virus thủy đậu gây ra, và những người đã từng bị thủy đậu cũng có thể bị zona. Zona thường chỉ giới hạn ở một bên cơ thể thành một dải rộng, là phần da do dây thần kinh đơn lẻ chi phối. Vì bệnh chỉ giới hạn ở dây thần kinh đang có virus nên hiếm khi gây sốt, nhưng sẽ khiến bệnh nhân bị đau. Điều trị zona cũng giống như điều trị thủy đậu.
Nhà thuốc Sơn Trường
Luôn mang lại niền tin cho khách hàng

CÁC BỆNH TRẺ EM

CÁC BỆNH TRẺ EM
Quai b
Quai bị là hiện tượng viêm tuyến nước bọt do virus. Các tuyến nước bọt chủ yếu phân bố ở ngay bên dưới và phía trước tai. Trước khi xuất hiện bất cứ hiện tượng sưng đáng chú ý nào, bệnh nhân có thể bị sốt nhẹ, đau dầu, đau tai hoặc mệt mỏi. Hiện tượng sốt ở trẻ cũng rất khác nhau. Bệnh nhân có thể chỉ sốt ở nhiệt độ cao hơn bình thường một chút hoặc có thể sốt cao tới 40°c. Vài ngày sau khi những triệu chứng này xuất hiện, một hoặc cả hai tuyến nước bọt (tuyến mang tai) có thể bị sưng.
Đôi khi rất khó phân biệt được quai bị với chứng sưng hạch bạch huyết ở cổ. Trong trường hợp bệnh nhân bị quai bị, bạn sẽ không sờ thấy phần xương quai hàm phía dưới tai. Bệnh nhân sẽ bị đau ở dưới tai khi nhai hoặc nuốt. Những chất chua như chanh hay giấm có thể làm chỗ đau càng nặng thêm. Khi trẻ bị sưng ở cả hai bên mang tai, mặt bệnh nhân trông giống như mặt con chuột sóc vậy. Các tuyến nước bọt khác bên cạnh mang tai cũng có thể sẽ bị ảnh hưởng, gồm cả những tuyến nước bọt dưới hàm và lười. Đầu các tuyến này trong miệng sẽ bị sưng đỏ lên.
Có khoảng một phần ba số bệnh nhân bị quai bị không bị sưng bất cứ tuyến nào. Do đó, nhiều người đã tiếp xúc với người bệnh và mắc bệnh mà không hề nhận thấy điều đó.
Quai bị tương đối dễ lây trong giai đoạn từ 2 ngày trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên, đến khi tuyến mang tai hoàn toàn không còn sưng, thường là khoảng một tuần sau khi các tuyến này bắt đầu sưng. Bệnh phát triển người dễ mắc bệnh đã từng tiếp xúc với người bị bệnh trong vòng từ 16 đến 18 ngày sau khi tiếp xúc với virus. trẻ em, quai bị là bệnh nhẹ.

Sơ đồ lựa chọn được xây dựng theo hướng nhằm phát hiện ra các biến chứng hiếm gặp. Những biến chứng đó là viêm não (não bị nhiễm trùng do virus), viêm tụy (tụy bị nhiễm trùng do virus), bệnh thận, điếc, các chứng bệnh liên quan đến tinh hoàn hay buồng trứng. Các biến chứng này thường hay gặp ở người lớn hơn là ở trẻ em.

XỬ lý tẠi nhà
Các loại thuốc giảm đau có bán trên thị trường là rất quan trọng trong việc điều trị tại nhà (Chú ý: Không bao giờ được cho trẻ dưới 15 uống aspirin nếu có khả năng bị viêm nhiễm do virus). Bệnh nhân có thể ăn uống khó khăn, nhưng việc cung cấp đủ lượng nước vào cơ thể bệnh nhân là rất quan trọng, cần tránh các thức ăn chua, gồm cả nước cam. Những người lớn chưa từng bị quai bị nên tránh tiếp xúc với bệnh nhân cho đến khi bệnh nhân hoàn toàn không còn bị sưng nữa.
Nhiều người lớn không nhớ khi còn nhỏ đã từng bị quai bị hay chưa có thể đã từng bị quai bị nhẹ và không có nguy cơ bị quai bị nữa.
Nếu hiện tượng sưng không giảm đi sau vài tuần, hãy gọi cho bác sĩ.

Trông đỢi gì Ở phòng khám


Nhà thuốc Sơn Trường
Luôn mang lại niền tin cho khách hàng